Quốc Gia Khởi Nghiệp – Ta ở đâu?

Phi Nguyen - 16/08/2016

Quốc gia khởi nghiệp có thể là một ý tưởng khá mới mẻ tại Việt Nam nhưng trên thực tế đã được triển khai từ thế kỷ 20 tại nhiều quốc gia khác trên thế giới. Đây là “chiến lược quốc gia” nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đã được kiểm chứng thành công tại nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Israel, Anh, Đức, Singapore, Brazil, Pháp, Úc, Canada, Nga, Ấn độ…. Hãy tưởng tượng tổng doanh thu quốc nội của Mỹ hiện tại là 15 nghìn tỷ USD, trong đó 1 nghìn tỷ USD là nhờ vào đóng góp của 9 công ty công nghệ khổng lồ mà 15 năm trước thậm chí còn chưa xuất hiện như Facebook, Twitter, Groupon…. Cũng vì vậy mà tất cả các quốc gia trên thế giới và trong khu vực đều đang đổ xô vào xây dựng chiến lược “quốc gia khởi nghiệp”, tạo đòn bẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, và nâng cao vị thế cạnh tranh của quốc gia mình trên trường quốc tế.

 

Thế giới không chỉ “phẳng” mà còn “tức thì” nữa!

 

Nếu phải kể đến cuộc cách mạng vĩ đại làm thay đổi thế giới trong ba thế kỷ qua, không thể không nhắc đến cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 17. Mọi thứ được chuyển đổi từ sản xuất bằng tay sang sản xuất bằng máy. Và cuộc cách mạng công nghiệp đã làm cho cả thế giới này thay đổi về mọi phương diện, quan trọng nhất có thể nói là tiêu chuẩn sống. Người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ công nghiệp, thời kỳ sản sinh ra những tập đoàn khổng lồ trên bảng xếp hạng S&P500 như 3M, GE, hay P&G (S&P500 là chỉ số chứng khoán của 500 công ty lớn trên thị trường chứng khoán New York NYSE hay NASDAQ). Nhưng rồi cuối thế kỷ 20, internet xuất hiện, thế giới bắt đầu số hoá. Tất cả mọi tiền lệ, mọi nguyên tắc và sự ổn định bỗng dưng bị đảo lộn bởi thứ được mệnh danh là “công nghệ phá vỡ mọi nguyên tắc”. Thế giới dịch chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ thông tin. Với 2 tỷ người sử dụng internet băng thông cao và 51.9% dân số thế giới sở hữu điện thoại thông minh, cơ sở hạ tầng cho sự bùng nổ của thời đại thông tin có thể nói là quá sẵn sàng. Nếu thế giới “phẳng” nhờ vào cách mạng công nghiệp, thì thế giới lại còn “tức thì” trong thời đại thông tin. Khoảng cách giữa thế giới và thông tin chỉ mỏng manh như là một cú click. Các chuyên gia kinh tế thế giới cho rằng ta đang chứng kiến sự giao thoa mang tính thay đổi nhân loại giữa hai thời kỳ cách mạng. Sự thật có thể đau lòng là toàn bộ nền tảng kinh tế, xã hội của thế giới phải thay đổi để thích ứng với thời kỳ mới. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phải thay đổi tư duy, chiến lược, và hành vi để tồn tại và phát triển trong thời kỳ mới, từ chính phủ đến kinh doanh, tài chính, giáo dục, y tế, năng lượng, công nghệ, khoa học và thậm chí cả nghệ thuật nữa.

 

“Khởi nghiệp” thời đại thông tin

 

Sự bắt đầu của thời kỳ thông tin với luật chơi mới đã đặt lại định nghĩa về nhu cầu và thị trường cho mọi ngành nghề, mọi phương diện xã hội hiện nay. Xưa thì Kodak, nay là instagram. Xưa là Borders Books, nay là Amazon. Xưa là khách sạn, nay là Airbnb. Vậy là chỉ trong tích tắc, những bộ óc “thông tin” đằng sau các công ty khởi nghiệp trở thành mối đe doạ thay thế những bộ máy già nua đang giảm thọ của các tập đoàn lớn, cồng kềnh trên thế giới. Nếu năm 1930 vòng đời của một tập đoàn lớn trên bảng xếp hạng S&P500 là 65 năm thì hiện nay tuổi thọ của họ đã giảm đi 80%, trung bình chỉ còn 15 năm. Và cứ như vậy, hàng ngàn công ty khởi nghiệp mọc lên như nấm khắp nơi trên thế giới, thách thức hiện trạng của tất cả các ngành nghề. Bên cạnh sự trỗi dậy của thời kỳ thông tin, các yếu tố nền tảng của sự bùng nổ khởi nghiệp này còn nhờ vào điều kiện thuận lợi từ chi phí phát triển sản phẩm thấp hơn, dẫn đến hệ quả các quỹ đầu tư mạo hiểm có thể tham gia được nhiều dự án hơn, khoa học “khởi nghiệp tinh gọn” đã qua thử nghiệm và áp dụng thành công, với tốc độ chấp nhận và sử dụng công nghệ mới của người tiêu dùng cũng ngày càng nhanh hơn. Trong một hội thảo ngành bán lẻ và địa ốc tại Hong Kong tháng 12/2015, CEO công ty NEST, một công ty chuyên tổ chức hỗ trợ và đầu tư vào các dự án mới khởi nghiệp tại Hong Kong đã nói với tôi thế này: “Cách duy nhất để thành công trong tương lai là suy nghĩ và hành động như thể bạn không có gì để mất.” Thế giới bây giờ là sân chơi của những thế hệ thời kỳ “thông tin”. Họ được sinh ra để “phá vỡ nguyên tắc”. Thời cuộc là như thế. Tất cả những nguyên tắc hiện hữu đều có thể bị thách thức. Tất cả nhu cầu tiêu dùng đều có thể bị tái định hướng bằng công nghệ. Trước có taxi thì sau có Uber. Khởi nghiệp trở thành xu hướng chung của thế giới. Cũng vì vậy, quốc gia khởi nghiệp không chỉ là vấn đề khơi gợi tinh thần trong ranh giới của một quốc gia. Nó cần phải được định hướng như một chiến lược cạnh tranh của quốc gia đó trong bối cảnh thế giới khởi nghiệp. Cần có một định vị hết sức rõ ràng về thế mạnh của quốc gia để nhà nước có thể định hướng, tham gia, và hỗ trợ bằng cách tập trung xây dựng nền tảng và cơ sở hạ tầng cho các công ty khởi nghiệp.

 

Trung tâm khởi nghiệp

 

Các chuyên gia cho rằng kinh tế thế giới năm 2025 sẽ do những ông trùm công nghệ chi phối. Chỉ có điều nhiều ông trùm cho đến năm 2016 vẫn… chưa xuất hiện! Đâu đó tại những trung tâm khởi nghiệp (start-up hubs) trên thế giới, họ đang làm việc mỗi ngày 22 tiếng, ăn mì gói và ngủ luôn trên bàn làm việc. Những trung tâm khởi nghiệp này có thể là một thành phố hay một khu vực địa lý giới hạn nào đó được các quốc gia lựa chọn làm khu vực tập trung đầu tư, hỗ trợ khởi nghiệp. Ví dụ trong trường hợp của Đức là thành phố Berlin, hay trong trường hợp của Ấn độ là thành phố Bangalore. Những trung tâm khởi nghiệp này sở hữu cái mà nhiều người nhắc đến là hệ sinh thái khởi nghiệp. Tại sao phải cần một hệ sinh thái khởi nghiệp? Khái niệm “khởi nghiệp” theo định nghĩa mới của thời đại là những công ty khởi nghiệp dựa vào công nghệ, theo xu hướng của thời đại thông tin. Theo thống kê, 75% các công ty “khởi nghiệp” thất bại. Nhưng nếu thành công, họ trở thành những công ty phát triển vượt bậc theo kiểu của facebook hay amazon. Chính vì thế, họ cần một hệ sinh thái hỗ trợ hoàn toàn khác so với các công ty nhỏ trong những ngành nghề truyền thống. Về tài chính, họ cần sự hỗ trợ khác nhau trong từng giai đoạn khác nhau, nhà đầu tư thiên thần cho giai đoạn khởi đầu, nhà đầu tư “tăng tốc” (accelerators) thường là vào 3 tháng cuối trong giai đoạn chuẩn bị kêu gọi quỹ đầu tư, và quỹ đầu tư mạo hiểu sau giai đoạn đã thử nghiệm thành công sản phẩm. Và cái họ cần không phải chỉ đơn thuần là vốn. Họ cần người cố vấn, hướng dẫn, và đào tạo. Theo báo cáo “khởi nghiệp” quốc tế phát hành năm 2015, một công ty khởi nghiệp có người tư vấn và hướng dẫn có khả năng phát triển tăng gấp 3.5 lần và gây quỹ nhiều hơn gấp 7 lần. Đơn gỉan vì họ được hỗ trợ rất nhiều kỹ năng còn thiếu về quản trị như chiến lược phát triển, tài chính, chính sách, qui định pháp lý, công nghệ mới, marketing, và quản trị dự án. Về nhân sự, “khởi nghiệp thời thông tin” cần những tài năng “khác thường” với tính cách “bất thường”, không phải là cách làm việc kiểu truyền thống với mục tiêu, qui trình, và kết quả dự đoán. “Khởi nghiệp” là tự mình đặt ra cho bản thân những việc phải làm cho một dự án mà trước giờ chưa ai từng làm. “Khởi nghiệp” cần sự dũng cảm khi phải bỏ đi đứa con tinh thần vừa mới ra đời và bắt đầu lại từ đầu với một tờ giấy trắng. “Khởi nghiệp” không chỉ cần những tài năng biết đọc, viết, và giải thuật toán mà là những người có thể thiết kế một trải nghiệm hoàn toàn mới cho người sử dụng. Tất cả những nhân vật này - nhà đầu tư, nhà tư vấn, người hướng dẫn, hay thành viên dự án - có nhu cầu thường xuyên kết nối và chia sẻ. Triển khai một ý tưởng cần sự sáng tạo, cần sự linh hoạt và có khi cần thay đổi chiến lược tiếp cận đến 3 lần trong một ngày. Do đó, nhu cầu ở cùng nhau trong một vị trí địa lý là vô cùng cần thiết. Ngoài ra, họ cũng cần một thị trường thử nghiệm đủ lớn, cần tương tác và hiểu rõ ý kiến của khách hàng sau khi sử dụng để tiếp tục hoàn thiện và tinh chỉnh sản phẩm. Tất cả những thành tố cơ bản đó tập hợp lại tại một nơi gọi là trung tâm khởi nghiệp như Silicon Valley, Tel Aviv, Berlin, London, Sao Paulo, Singapore, Moscow, Bangalore hay Kuala Lumpur…. Nếu thiếu một trong những thành tố cơ bản này, hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ trở nên khập khiễng. Trong trường hợp của Việt Nam mình, trung tâm đó ở đâu? Đó có phải là thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội?

 

Cần gì để quốc gia khởi nghiệp?

 

Nếu có một bài học mà chúng ta học được từ những trung tâm khởi nghiệp hàng đầu thế giới, đó là gì? Tất nhiên những điều kiện đặc biệt mà họ sở hữu như chính sách nhập cư dễ dàng để thu hút tài năng của Mỹ, chương trình đào tạo công nghệ xuất sắc cho ngành quốc phòng của Israel, hay một thị trường có thu nhập cao, dễ thử nghiệm như London không thể là điều mà Việt Nam sẵn có. Việt Nam mình hãy còn là một tờ giấy trắng, cần có một đội ngũ lãnh đạo có tầm nhìn và đủ khả năng để vẽ nên một bức tranh khởi nghiệp sinh động từ con số 0. Erel Margalit, người Israel hiếm hoi xếp hạng 69 trên danh sách Midas “những nhà đầu tư mạo hiểm nhất thế giới” đã phát biểu như vầy: “Các nhà lãnh đạo trong lịch sử là những “nhà lãnh đạo khởi nghiệp” – những người tác động sâu sắc đến sự phát triển của quốc gia, thậm chí cả các nền văn minh.”

 

Và rồi dưới định hướng và hỗ trợ của “nhà lãnh đạo khởi nghiệp”, một hệ sinh thái khởi nghiệp cần phải được xây dựng với bốn nền tảng chính là Ý tưởng & tài năng, cộng đồng khởi nghiệp, chính sách nhà nước & tài chính, và cuối cùng là thị trường tiêu thụ.

 

Ý tưởng thường được nuôi dưỡng từ những tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D), đa phần là chương trình hợp tác với các học viện hay trường đại học hàng đầu. Việt Nam mình có hay không những vườn ươm công nghệ như thế? Nếu chưa có thì chúng ta cần tổ chức làm sao? Tài năng là những con người xuất sắc được sản sinh từ những lò ươm, nếu chưa đủ lò tài năng thì nên chăng có một chính sách thu hút những tài năng trong khu vực và thế giới đến Việt Nam khởi nghiệp? Năm 2015, số lượng bằng sáng chế đăng ký của Mỹ, nước đứng đầu về sáng tạo là 319.748, kế tiếp là Nhật, Trung quốc, Hàn quốc, và Nga. Singapore xếp hạng 16 với 5.226 bằng, và Việt nam xếp hạng 37 với 1.236 bằng. Nếu bàn về ý tưởng và sáng tạo có lẽ Việt Nam mình cần thêm thời gian học hỏi. Tuy nhiên, nếu một phần thành công của Israel là nhờ vào mạng lưới kiều bào hải ngoại (Diaspora), những người đã có kinh nghiệm làm việc và khởi nghiệp từ các trung tâm khởi nghiệp hàng đầu thế giới, Việt Nam cũng có thể suy nghĩ về việc thu hút cộng đồng này từ Silicon Valley, New York, Toronto, Sydney, hay Singapore….  Suy cho cùng, trung tâm khởi nghiệp không còn là ranh giới quốc gia mà nó phải trở thành một trung tâm sáng tạo toàn cầu, thu hút nguồn lực tài chính, nhân sự, và hệ thống dịch vụ hỗ trợ trên toàn thế giới.

 

Cần phải có một trung tâm khởi nghiệp thí điểm để tập hợp cộng đồng khởi nghiệp, để những người khởi nghiệp Việt Nam được nuôi dưỡng, được tham gia và học hỏi từ các dự án khởi nghiệp nước ngoài, được kết nối và sáng tạo trong một hệ sinh thái khởi nghiệp hoàn chỉnh. Làm được như thế, nền tảng thứ 2 – cộng đồng khởi nghiệp sẽ được hình thành.

 

Nền tảng thứ 3 – chính sách và nguồn tài chính là hai yếu tố quan trọng không thể tách rời. Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của quốc gia cần thiết được xây dựng và điều chỉnh làm sao để thu hút vốn đầu tư mạo hiểm, đào tạo & thu hút nhân tài, cung cấp cơ sở vật chất hạ tầng, và giảm thiểu khó khăn hành chính cho công ty khởi nghiệp. Bản thân nhà nước cũng cần phải tham gia xây dựng nên quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia để thúc đẩy quá trình khởi nghiệp. Trong quyển sách “Quốc gia khởi nghiệp” của Dan Senor & Saul Singer, hai tác giả này có nhắc đến chương trình Yozma của chính phủ Israel, chương trình chính phủ đầu tư 100 triệu đô la để tạo ra 10 quỹ đầu tư mạo hiểm mới. Mỗi quỹ phải có ba bên làm đại diện: Những nhà đầu tư mạo hiểm Israel đang được đào tạo, một hãng đầu tư mạo hiểm của nước ngoài, và một công ty đầu tư hoặc một ngân hàng của Israel. Đây chính là khái niệm vốn mồi của chính phủ đã từng được nhắc đến.

 

Nền tảng thứ 4 – thị trường là việc xác định những thị trường mục tiêu hàng đầu để phát triển ngay sau khi thử nghiệm. Ví dụ khi sản phẩm đã thử nghiệm thành công tại trung tâm khởi nghiệp Moscow chẳng hạn, top 3 thị trường mục tiêu của các công ty này thường là Nga, Mỹ, Trung quốc. Nhưng trong trường hợp của trung tâm khởi nghiệp Singapore thì top 3 là Mỹ, Trung quốc, và Indonesia. Với vị thế của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN, những thị trường mục tiêu hợp lý trong khu vực có thể là Indonesia, Phillipines, Thái lan và Myanmar. 

 

Khởi nghiệp là xu hướng chung của thế giới trong bối cảnh chuyển đổi từ thời kỳ công nghiệp sang thời kỳ thông tin.  Việt Nam ta dĩ nhiên cần học hỏi và tham gia vào xu hướng chung này để từng bước xây dựng vị thế cạnh tranh của quốc gia trong khu vực và trên trường quốc tế. Nhưng triển khai làm sao cho có chiến lược, có định hướng và vận dụng được toàn bộ nguồn lực từ nhà nước đến tư nhân, từ tổ chức phi chính phủ đến nguồn lực nước ngoài nhằm xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp vững mạnh? Phải chăng Việt nam cần một “nhà lãnh đạo khởi nghiệp” với tầm nhìn và chiến lược quốc gia?

Theo tại chí Nhà Quản lý đăng tháng 06/2016. Tác giả: Nguyễn Phi Vân

Developed by: Digicomms.net