Kết quả
Tìm kiếm trên trang web này
Tìm thấy 1852 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống
- 3 TỪ KHOÁ CỦA TỰ HỌC
Bài viết cho báo Tuổi Trẻ 03/04/2020 Chỉ có chuyên gia của quá khứ, không có chuyên gia của tương lai. Đây có lẽ là câu nói được nhắc đến nhiều nhất trong các buổi toạ đàm về tương lai nghề nghiệp kể từ khi thế giới bước vào giai đoạn chuyển đổi 4.0, sang nền kinh tế số, kinh tế sáng tạo. Ở đó, tất cả mọi nguyên tắc, cơ sở, tư duy và cách làm truyền thống đều bị thách thức, lật nhào, bằng cách này hay cách khác. Không còn ai dám chắc, biết rõ, dự đoán chính xác chuyện gì sẽ xảy ra sau khúc quanh phía trước. Và nghề nghiệp cũng thế. Và kiến thức cũng thế. Và giáo dục cũng thế. Có những giá trị làm người, những kỹ năng mềm sẽ luôn luôn cần, cần hơn, cần khác đi tại mọi thời điểm. Nhưng kiến thức hôm nay, có thể ngày mai đã hết liên quan. Trong hoàn cảnh như thế, không còn trường lớp nào, thầy cô hay hệ thống gíao dục nào có thể ứng biến nhanh hơn để giúp ta, bằng cách ta tự cập nhật, tự xoay chuyển, tự ứng biến cho tương lai của chính mình. Không phải thế sao? Trên đời này, có ai khác chịu trách nhiệm về bản thân ta như chính ta đâu? Không ai khác. Nhưng tự học lại là cách tiếp cận khó khăn nhất khi thiếu định hướng, thiếu phương pháp, động lực, và sự kiên trì. Là người đã tự học từ rất nhiều năm nay, tôi đơn giản chỉ bám theo 3 từ khoá sau đây. Từ khoá 1: Why – Học để làm gì? Tôi chưa bao giờ học gì mà không hiểu tại sao mình phải học. Tôi chưa bao giờ học vì thấy người khác học. Tôi cũng chưa bao giờ học vì ai đó bảo rằng tôi phải học. Tất cả những tác động từ bên ngoài, dù từ ai và vì lý do gì, đều sẽ trở thành gánh nặng cho cá nhân, khiến ta gục ngã, bỏ cuộc sau một thời gian ngắn. Tự học là cách tiếp cận rất khó, đòi hỏi ý chí quá lớn, và nếu động lực không bắt đầu từ bên trong, tin tôi đi bạn sẽ bỏ cuộc, sớm hay muộn. Vì vậy, tôi chỉ chọn học những kiến thức, kỹ năng mà tôi cần ngay tức khắc, phục vụ cho công việc, dự án, cuộc sống của tôi ngay trước mắt. Khi bạn có mục đích rất rõ ràng, bị ép vì sự giới hạn của thời gian, bị tác động bởi kết quả, bởi sự thành bại và sống còn ngay phía trước, thì tự học là chiêu qua cầu rút ván. Ta không còn đường thoái lui. Khi ép mình vào thế này, con người thường có mức độ tập trung cực cao, học nhanh, ứng dụng tức thì, và vì vậy mà dễ cá nhân hoá lý thuyết vừa học vào thực tế của bản thân. Ứng dụng mới chính là học. Còn lại, chỉ là đọc cho vui, nhớ nhất thời, học cho có, học để quên, mất thời gian vô ích. Khi việc học nhằm thoả mãn nhu cầu ngay lập tức, giúp bạn giải quyết vấn đề trước mắt, chính kết quả mang lại sẽ trở thành động lực giúp bạn tiếp tục, không bỏ cuộc. Không ai trên đời này có thể làm gì mãi dù không thấy kết quả hay hiệu quả cụ thể ở đâu. Không ai có thể học được nếu bị ai đó ép mà chẳng hiểu tại sao mình phải học. Do đó, nếu bạn không tự tạo hoàn cảnh để tự ép bản thân mình, bạn sẽ không bao giờ tự học được. Từ khoá 2: How – Học kiểu gì? Tôi là người lười học, ham vui, rất ghét các kiểu học quá nghiêm túc, bị ép buộc theo khuôn khổ. Có một thực tế hết sức giản đơn là, không vui, không thoải mái thì đố mà học được. Khi tự học, điều này càng trở nên quan trọng, vì người duy nhất quản trị chuyện học là bản thân ta. Khi phải đấu tranh giữa việc học và giải trí thì, lựa chọn của một người bình thường luôn nghiêng về bên sung sướng, vui chơi, thoải mái. Ai cũng vậy thôi. Đừng lừa dối bản thân và cố gắng che giấu ham muốn này của bản thân bằng những lời đạo đức và hoa mỹ. Cuộc đấu tranh tự học là cuộc chiến gay go nhất giữa ta với chính bản thân mình. Vì vậy, chiến thuật của tôi là, chọn cách học đánh lừa bản thân là mình đang chơi chứ không phải là đang học. Thế giới có một phương pháp rất hay gọi là play-based learning – học bằng cách chơi, và phương pháp này đã được ứng dụng rất hiệu quả tại các quốc gia Bắc Âu. Bạn nghĩ đi, nếu đã là chơi, thì ai mà không thích và không thích chơi hoài chứ? Vui mà! Mỗi người có sở thích và cách tiếp cận khác nhau, nên bạn cũng không cần phải theo ai. Điều quan trọng nhất là tìm hiểu xem bản thân mình thích nhất là học kiểu gì. Ví dụ đối với tôi, cách hiệu quả nhất để tự học ngôn ngữ là xem phim, xem game show giải trí, chat với bạn bè bằng ngôn ngữ gốc. Vậy gọi là chơi chứ không phải học, và vì vậy tôi học rất nhanh. Cách học kiến thức mới của tôi là đi du lịch kết hợp với tham dự khoá học ngắn hạn có sự tham dự của nhiều bạn học từ các quốc gia khác nhau. Khi tạo hoàn cảnh học như thế, tôi tự tạo động lực cho bản thân vì được đi chơi, được gặp gỡ và lắng nghe nhiều câu chuyện đời rất hay, rất mới, làm tư liệu cho cuộc sống và thú vui viết lách của mình. Vậy, nghĩa là tôi đang lồng việc học vào sở thích của mình. Cuối cùng vẫn là chơi, nên vô cùng thích học. Là người thích nghệ thuật, tôi chọn những khoá học online quay đẹp, nghệ thuật, do người có trải nghiệm nghề nghiệp dạy bằng chính câu chuyện đời và bài học cá nhân. Ví dụ trên Khan Academy chẳng hạn, tôi học khoá viết lách từ chính một nhà báo Mỹ viết từ trải nghiệm sống trong tâm chiến. Với tôi, đó là câu chuyện đời quá hay ho, quá sống động, đầy sắc màu của một cá nhân đặc biệt, không phải học. Ngữ cảnh quan trọng đến như thế, vì nó cho ta cảm giác được sống, được yêu thích, được vui chơi, được trải nghiệm chứ không bị học. Mỗi cá nhân sẽ có sở thích và cách chơi khác nhau. Bạn nên hiểu cách nào giúp bản thân học dễ nhất, rồi chọn cách đó làm đường dẫn vào hành trình học. Người xưa nói, nếu bạn yêu thích công việc, bạn sẽ không phải làm việc một ngày nào trong đời. Cũng vậy thôi, nếu bạn yêu thích cái cần học, bạn sẽ không phải học một ngày nào trong đời. Từ khoá 3: What – Học gì? Chỉ có bạn mới biết mình cần phải học gì. Mỗi chúng ta đều có cuộc đời và hoàn cảnh rất khác nhau. Tại thời điểm này, ngay khi đang đọc bài này, mội chúng ta đều đang có một mục tiêu, một hành trình, một mong muốn, một công việc, một dự án hoàn toàn khác nhau. Vì thế, chúng ta không thể học giống nhau. Đừng nghe theo lời người khác và cắm đầu vào học những thứ người khác yêu cầu. làm thế, mà không hiểu tại sao, sớm muộn gì cũng bỏ cuộc. Học là cách để ta phát triển bản thân, và vì vậy, học là chuyện hết sức cá nhân, theo nhu cầu ngay lúc này, phục vụ tức thì cho công việc, dự án, và cuộc sống. Ví dụ, nếu bạn đang cần trở nên tự nhiên hơn khi tham gia yến tiệc với đối tác quốc tế, thứ cần học là kỹ năng bàn tiệc, là kiến thức về rượu vang chẳng hạn, chứ không phải là khoá CFO – giám đốc tài chính. Ở từng thời điểm sự nghiệp, công việc, thứ bạn cần học sẽ rất khác nhau. Quan trọng là ta cần phải hiểu mình cần gì ngay lúc này, và chọn ưu tiên học những thứ giúp ta giải quyết đựợc vấn đề. Phương pháp học này, gọi là problem-based learning – học qua giải quyết vấn đề. Nếu học mà chẳng để ứng dụng vào giải quyết một vấn đề cụ thể thì học để làm gì? Học xong cũng quên hết mà thôi, phí thời gian, công sức và tiền bạc. Là người rất thực tế, rất đơn giản, thích chơi hơn là học, những chia sẻ này có lẽ sẽ làm không ít người ngạc nhiên vì tính phi lý thuyết của nó. Nhưng tự học, bản thân nó đã là phi lý thuyết, vì làm gì có một cách tiếp cận chung cho 7 tỷ con người vốn dĩ rất khác nhau? https://tuoitre.vn/tac-gia-nguyen-phi-van-3-tu-khoa-cua-tu-hoc-20200401151750474.htm?fbclid=IwAR2so7LrjR8PgXYbU4OXJuhpTNTlCMgxVPUpbaEwzuU_Zdn3bxcSUYXYLxY
- CƠ HỘI MỚI CHO NGÀNH VIRTUAL ENTERTAINMENT - GIẢI TRÍ & TỔ CHỨC SỰ KIỆN ONLINE
Bài dành cho các bạn làm ngành liên quan đến giải trí, tổ chức sự kiện. Mùa Covid, thật ra là cơ hội quá lớn cho các tech startup chuyên về nền tảng online thay thế cho các sự kiện offline, từ workshop, hội nghị, sự kiện giải trí về âm nhạc, thể thao, ngày hội các kiểu. Tuy nhiên, số lượng startup bắt tay vào xây dựng ý tưởng thì nhiều, số lượng nền tảng có thực lực để vận hành tốt, phục vụ được nhu cầu của người làm tổ chức sự kiện hầu như kiếm không ra. Một phần là do các team tech không hiểu rõ nhu cầu của người sử dụng. Một phần là do các bạn chưa push boundary – vượt qua được tư duy “không làm được”, “khó lắm”, “không thể” vì thiếu trí tưởng tượng, thiếu khả năng, thiếu hiểu biết về ngành, hoặc thiếu động lực biến những điều không thể thành có thể. Hôm qua, đọc được một bài rất hay trên báo Rolling Stone về chương trình festival âm nhạc mang tên “Live from Out There”. Đây là chương trình festival âm nhạc hoàn toàn ảo, trên nền tảng online, tạo doanh số 100 ngàn đô Mỹ trong vòng 2 ngày cuối tuần. Chương trình sử dụng nền tảng streaming nugs.tv, và sử dụng mô hình kinh doanh dạng subscription – đăng ký dài hạn. Subscription là mô hình kinh doanh đã rất thịnh hành trên thế giới từ vài năm trở lại đây, có thể ứng dụng cho tất cả các ngành bán lẻ, dịch vụ trực tiếp từ khách hàng đến doanh nghiệp mà ngành nghề nào cũng ứng dụng được. Với doanh thu kỷ lục 100 ngàn đô trong 2 ngày mở bán, và với chương trình thật ra không hề có ngôi sao nổi bật nào, đây có thể nói là cột mốc cho sự chuyển đổi ngoạn mục của ngành giải trí lên đám mây, tạo doanh thu khủng với chi phí đầu tư cực thấp. Bên cạnh đó, đây cũng là cột mốc của democratization of talents – dân chủ hoá tài năng, cho phép nhiều tài năng đa dạng hơn tham gia vào ngành giải trí. Công ty tổ chức sự kiện âm nhạc Live from Out There mở gói subscription giá 50 đô cho 6 tuần hoà nhạc, hoặc giá chỉ có 5 đô nếu mua lẻ mỗi chương trình. Vài show được mở xem free để quảng bá thu hút khách hàng mới, tạo lead bán hàng. Cũng như e-sport, đây là thị trường còn bỏ ngõ cực lớn, đầy tiềm năng cho tương lai. Dán cái link của nugs.tv ở đây cho các bạn tham khảo và suy nghĩ tiếp về mô hình này. Ai đang xây dựng nền tảng tương tự tại Việt Nam muốn tham vấn thì ib nhé.
- 5 RULES OF DESIGN FROM STEVE JOBS
Thích 5 nguyên tắc thiết kế này của Steve Jobs, và không chỉ dừng lại ở thiết kế sản phẩm đâu. Trong công việc hàng ngày, tất cả chúng ta đều là designer. Viết một quy trình là đang thiết kế. Viết một văn bản hướng dẫn là đang thiết kế. Soạn một bài powerpoint là đang thiết kế. Chuẩn bị 1 post nội dung cho facebook là đang thiết kế. Soạn cẩm nang vận hành cho chi nhánh là đang thiết kế. Tất cả những gì chúng ta tạo mới trong công việc và cuộc sống đều là thiết kế. Và thực tế là con người ai cũng thích làm cho mọi thứ phức tạp hơn lên, hoa mỹ và bóng bẩy hơn lên. Tôi hay nhắc nhở tất cả các team, làm ơn đơn giản dễ hiểu dễ sử dụng nhất có thể giùm. Đừng tạo ra những thứ bản thân đọc lại còn không hiểu huống chi là người sử dụng. Mời mọi người xem clip này về 5 nguyên tắc thiết kế của Steve Jobs để ứng dụng vào công việc hàng ngày nhé. Steve Jobs dành cả đời mình để làm cho Apple trở thành công ty dẫn đầu về sáng tạo. Tầm nhìn của ông đã truyền cảm hứng cho những thiết kế độc đáo, từ iMac đến iPhone. Đối với ông, thiết kế không dừng lại ở bề ngoài của sản phẩm. Design is how it works - Thiết kế cách vận hành của sản phẩm". 5 nguyên tắc thiết kế của ông như sau: 1. Simplicity - Tính đơn gỉan: một sản phẩm tuyệt vời là sản phẩm dễ sử dụng. "Chúng ta cần làm cho cách sử dụng sản phẩm tự thân nó đã quá rõ ràng, dễ hiểu không cần giải thích gì thêm". 2. Friendliness - Tính thân thiện: máy Macintosh đầu tiên bắt đầu với nụ cười trên màn hinh. Theo nhà viết tiểu sử Walter Issacson, Jobs luôn luôn nhắc đến tính thân thiện. Máy tính vì vậy nhìn như gương mặt người. 3. Minimalism - Tính tối giản: được truyền cảm hứng từ thiền, Jobs luôn cắt giảm những thành tố không cần thiết, chỉ giữ lại những gì thật sự không thể không có. 4. Precision - Tính chính xác: Jobs rất chi tiết trong thiết kế. Dù không còn cơ hội nhìn thấy chiếc du thuyền Venus hoàn thành, nhà thiết kế Philippe Starck cho biết ông luôn quay trở lại kiểm tra các chi tiết cho đến khi chúng trở nên hoàn hảo. 5. Focus - Tính tập trung: một dự án dễ bị lâm vào tình trạng không quản lý được khi mọi người bắt đầu thêm thắt đủ thứ vào. Thiết kế trưởng của Apple, Johny Ive cho biết Jobs luôn tránh tất cả những thứ thêm thắt vô tội vạ. "Tập trung nghĩa là làm ngơ, bỏ qua một bên những thứ không cần thiết". Jobs rất giỏi việc này. Cho nên, khuyên các bạn trẻ Việt Nam trước khi, trong khi và sau khi làm bất kỳ chuyện gì, hãy thử hỏi lại mình 5 câu hỏi theo thứ tự trên đây, xem thứ mình vừa thiết kế ra có đơn giản, thân thiện, tối giản, chính xác và tập trung giải quyết đúng vấn đề không. Đừng tạo ra những thứ so deep, hoa lá cành, phức tạp mà chẳng ai xài được.
- 4 CÂU HỎI LUYỆN TƯ DUY PHẢN BIỆN
Trước giờ khi làm việc trong một team, hay khi nghe trình bày một đề nghị, đề xuất từ bất kỳ nhân viên nào, tôi cũng đều đặt rất nhiều câu hỏi chứ ít khi đưa ra giải pháp. Đặt câu hỏi là cách tốt nhất để cố vấn, huấn luyện đội ngũ, và đồng thời là bài tập hàng ngày để phát triển tư duy phản biện cho team. 4 câu hỏi tôi thường đặt rất đơn giản như sau: 1. Vấn đề chúng ta đang muốn gỉai quyết là gì? Trong rất nhiều trường hợp, đặc biệt tại Việt Nam do nền tảng giáo dục thụ động, mọi người hay bị rơi vào tình trạng task-driven – làm vì bản thân hay ai đó đặt ra yêu cầu như vậy. Còn chuyện tại sao phải làm thứ mình đang làm, làm để giải quyết vấn đề cụ thể gì, và vấn đề có phải là vấn đề không thì không phải ai cũng hiểu. Ngoài ra, khi một đội nhào vào bàn bạc, các ý tưởng, đề xuất rất dễ bị văng tung toé, trật ra khỏi vấn đề chính cần giải quyết, và vì vậy rất cần được tém lại gọn gàng bằng câu hỏi, vấn đề chúng ta đang giải quyết là gì. Câu hỏi này hỏi hoài và ngồi nhìn người đối diện thừ mặt ra hoài, nên nghĩ là vẫn còn tác dụng. 2. Why? Why? Why? Why? Why? 5 chữ Why – Tại sao là kỹ thuật rất tốt để tìm ra nguồn gốc của vấn đề. Rất nhiều lần tôi bị quăng cho vấn đề không có giải pháp hoặc chính người quăng cũng không hiểu tại sao lại có vấn đề. Trước giờ làm việc với team nào tôi cũng nói rõ, đừng chỉ trình bày vấn đề, làm ơn luôn có giải pháp. Và giải pháp sau khi hỏi tại sao lần thứ nhất, so với giải pháp khi trả lời tại sao lần thứ 5 cách xa nhau nửa vòng trái đất. Cho nên, muốn giải quyết vấn đề thì cần phải hiểu nguồn gốc vấn đề. Muốn hiểu nguồn gốc vấn đề thì ít nhất phải hỏi tới tới 5 lần chữ why để đào sâu vào nguyên nhân. 3. And then what – Rồi sao nữa? Nhiều người, nhất là các bạn trẻ, chỉ thích nghĩ đến đoạn ý tưởng thôi. Tới đó là nghĩ rằng mình đã chiến thắng mất rồi. Nhưng rồi sao nữa? Kết quả sẽ ra sao? Hậu quả sẽ ra sao? Quỵết định này sẽ ảnh hưởng trong thời gian gần ra sao, trong thời gian xa hơn thế nào, ảnh hưởng đến ai, ảnh hưởng thế nào? Nếu không biết rồi sao nữa và kết cục sẽ ra sao, bạn vin vào điều gì để quyết định và chuẩn bị cho các tác dụng phụ có thể xảy ra? Câu này tuỳ trường hợp tôi hỏi một hay nhiều lần để giúp người đối diện suy nghĩ tiếp vào tương lai. 4. What’s the third option – Lựa chọn thứ 3 là gì? Khi trình bày các lựa chọn để quyết định, người ta hay đưa ra 2 lựa chọn có tính chất đối lập, có vẻ như phù hợp nhất trong một hoàn cảnh. Cách tư duy này là either/or hoặc là cái này hoặc là cái kia. Trong rất nhiều trường hợp, ta không cần phải loại trừ. Khi bị đặt câu hỏi thêm một lựa chọn không nằm trong những thứ vừa trình bày, bạn bắt người đối diện phải động não tìm thêm giải pháp bằng cách suy nghĩ khác đi. 4 câu hỏi này bất kỳ ai đang dẫn dắt đội nhóm đều có thể sử dụng. Tuy nhiên, tôi đặc biệt khuyên các bạn trẻ tự sử dụng 4 câu hỏi này để hỏi mình trước khi mang ý tưởng hay giải pháp của mình đi trình bày cho người khác. Ít ra, tự hỏi và tự chuẩn bị câu trả lời sẽ đỡ hơn là bị hỏi rồi ngồi im, đơ mặt.
- ADAPTABILITY
Theo báo cáo của Linkedin năm 2019, trước khi đại dịch bắt đầu, thì 5 kỹ năng mềm cần nhất cho 2020 là creativity – khả năng sáng tạo, persuasion – khả năng thuyết phục, collaboration – khả năng cộng tác, adaptability – khả năng thích nghi, và emotional intelligence – trí tuệ cảm xúc. Sự xuất hiện rất trùng hợp của Adaptability trong nhóm các kỹ năng nhà tuyển dụng cần nhất trong năm 2020 lại chính là kỹ năng giúp mỗi người biết cách chấp nhận, đối diện với hoàn cảnh, và học cách thay đổi chính mình để thích nghi. Tuy nhiên, khả năng thích nghi có thể được hiểu như thế nào? Và người có khả năng thích nghi nhìn ra sao? Chia sẻ với các bạn từ góc nhìn của người đã làm việc trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, tại nhiều quốc gia và văn hoá khác nhau. Đây cũng là lúc chúng ta cần nhìn lại chính bản thân mình, xem khả năng thích nghi của bản thân thế nào, và học cách rèn luyện nhé. Người có khả năng thích nghi cao là người: 1. Willing to experiment – Sẵn sàng thử nghiệm cái mới: trong thế giới của người dễ thích nghi, thay đổi là chuyện đương nhiên. Vì tư duy mở nên họ dễ chấp nhận mọi sự thay đổi, ung dung đối diện với thay đổi, và vui vẻ tìm giải pháp để thích nghi. Trong sự bất định của tình hình thế giới hiện tại, ai không có tâm thế It’s OK – Đâu sao, chuyện nhỏ mà, người đó tự khoá mình vào quá khứ. 2. Unafraid of failure – không hề sợ thất bại: đã gọi là thử nghiệm cái mới, thì đương nhiên không sợ thất bại. Ai trên đời này có thể biết chắc 100% là chuyện mình chưa bao giờ làm, ý tưởng chưa bao giờ triển khai chắc chắn sẽ thành công? Khi ta đẩy mình vào thế sợ rủi ro, sợ sai, sợ thất bại, sợ đủ thứ, và cuối cùng không dám làm gì cả, ta đã tự chặn đường phát triển cho chính bản thân mình. Learning by doing – học từ làm, từ thử nghiệm là cách học nhanh nhất, hiệu quả nhất, nhớ lâu nhất, ứng dụng tốt nhất. Nếu sợ, sao học? 3. Resourceful – Biết cách huy động nguồn lực: cách nghĩ của rất nhiều bạn trẻ Việt Nam là, tôi có A, suy ra tôi chỉ có thể làm B. Đây là cách tư duy bị giới hạn bởi nguồn lực, và vì vậy làm cho con người thiếu sáng tạo, không dám dấn thân làm nên những điều kỳ diệu. Người dễ thích nghi là người tư duy ngược lại why – how – what – what. Tôi muốn đạt được mục tiêu gì, tôi sẽ làm cách nào để đạt được mục tiêu đó, tôi cụ thể tôi sẽ làm gì, và tôi sẽ cần nguồn lực hỗ trợ nào. Với cách tư duy này, mục tiêu cuối cùng cần phải đạt được bằng bất kỳ giá nào, và vì thế họ trở nên sáng tạo nhất có thể, nghĩ ra đủ cách để make things happen – làm cho được mới thôi. 4. Able to see the big picture – Luôn nhìn về mục tiêu lớn: nếu phải lùi 1 bước, người dễ thích nghi không phàn nàn vì phải lùi một bước. Họ nhìn bước lùi này trong ngữ cảnh của tương lai sẽ tiến 3 bước thế nào. Nếu hôm nay lương chỉ còn 50%, họ không bực bội tức tối mà sẽ làm việc cật lực hơn, sáng tạo hơn để chứng tỏ năng lực và tâm thế của bản thân với tổ chức. Người như thế sẽ trở thành người được trọng dụng, cất nhắc sau thử thách. 5. Positive – Tích cực: bạn có bao giờ vừa nói điều gì ra thì người đối diện đã còm “không được đâu, khó lắm, nhưng mà, không nên, vv”? Đó là những người bị kẹt trong tư duy ao tù, chỉ nghĩ được loanh quanh trong phạm vi giới hạn của chính bản thân, không bao giờ dám thử cái mới, làm những điều tưởng chừng như không thể, đơn giản vì họ không tin vào chính mình. Ngược lại, người dễ thích nghi luôn ở trong tâm thế mở, háo hức tìm hiểu và thử nghiệm cái mới, càng không biết càng thích. Đối với họ, thử thách là cơ hội để phát triển bản thân. Vì tích cực nên họ tiến xa và vượt qua mọi giới hạn mà người khác tự đặt ra cho bản thân mình. 6. Curious – Ham học hỏi: vì thích cái mới nên người dễ thích nghi thấy cái gì mới cũng nhào vô hỏi, nhào vô tìm hiểu, học, thử…. Và họ không dừng lại ở việc tìm hiểu công việc, chuyên môn, hay những gì liên quan đến thứ họ đang tìm. Người dễ thích nghi ham học hỏi đủ thứ, thấy gì cũng đặt câu hỏi, và vì họ curious về mọi thứ nên luôn tìm ra mối tương quan, nguyên lý áp dụng được giữa nhiều phạm trù khác nhau. Đối với tôi, đây có lẽ là điều tôi trân quý nhất khi ngộ ra và giúp tôi không ngừng sáng tạo. Đôi khi, xem một bức tranh, nghe một câu chuyện, dự một buổi hoà nhạc, hay đơn giản chỉ là đi bộ dọc theo một con đường xa lạ, nhìn cách mọi thứ diễn ra, tò mò tìm hiểu tại sao họ lại làm như thế là cách tôi học được nhiều nhất và là chất liệu để tạo ra nhiều ý tưởng nhất. 7. Being present – sống trong hiện tại: người không thích nghi mày mặt với quá khứ, sợ hãi, lo lắng tương lai, trốn tránh hiện tại. Nếu đã trốn tránh, không chấp nhận thì sao có thể nghĩ ra cách đối diện? Ừa thì hiện tại là như thế. So what? Có sao đâu! Nó đã là như thế rồi thì ta tìm cách giải quyết thôi. Thời gian vận não tìm giải pháp thích hợp có ích hơn nhiều so với thời gian bỏ ra để sợ. Adaptability có lẽ là kỹ năng nền tảng giúp con người bình tĩnh, vững tâm đối diện với tương lai bất định và tiếp tục hành trình chưa biết sẽ ra sao. Hoặc là ta luyện tập để trở thành người dễ thích nghi. Hoặc là ta co mình lại, sống như bubble boy – sợ tất cả và trốn trong quả bóng nhỏ của đời mình. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên biết một điều sẽ không bao giờ thay đổi là, tương lai thế giới này mãi mãi là bất định.
- NHỮNG CĂN BỆNH KHIẾN BẠN KHÔNG THỂ PHÁT TRIỂN BẢN THÂN
Trong thời gian làm việc tại Việt Nam vừa qua, tôi viết rất nhiều về kỹ năng, phẩm chất, và chia sẻ nhiều công cụ giúp các bạn trẻ phát triển bản thân. Tuy nhiên, tôi nhận thấy có rất nhiều trường hợp bản thân các bạn trẻ không biết mình thiếu kỹ năng gì, hoặc tưởng là mình đã có kỹ năng rồi, nên không có kế hoạch rèn luyện. Hôm nay, đứng từ góc độ ngược lại của người sử dụng nhân sự, tôi muốn chia sẻ với các bạn những triệu chứng bệnh thường ngày tại nơi làm việc mà tôi ghi nhận được. Những căn bệnh này chính là nguyên nhân gây ra sự mất tập trung, cản trở việc phát triển bản thân. 1. Bệnh im: do lớn lên trong môi trường giáo dục thụ động, người Việt đã quen nghe và im. Khi bắt đầu làm đi làm, thói quen này trở thành bệnh. Sếp giao việc xong, làm xong không xong cũng im. Gặp vấn đề giữa chừng không giải quyết được cũng im. Sếp không hỏi tới thì im luôn, cho qua. Chờ đến khi hỏi thì đưa ra đủ kiểu lý do tại sao công việc chưa xong, dự án dở dang, không thành. Đây là triệu chứng của bệnh thiếu sự chủ động, thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng giao tiếp. Đây là bệnh nghiêm trọng sẽ cản trở mọi sự phát triển sự nghiệp phía trước. Nếu đang bệnh, cần chữa ngay. 2. Bệnh đổ thừa: khi hỏi tại sao việc không xong, 99% câu trả lời là tại vì đứa khác. Thói quen đổ thừa người khác không giúp gì cho ai. Nó chỉ cho thấy bạn là người thiếu trách nhiệm, kém khả năng, không đáng tin cậy. Reliability – Sự đáng tin cậy là một phẩm chất cực kỳ quan trọng của người đi làm. Nếu giao việc cho bạn mà không trông cậy được vào bạn, chỉ toàn nghe đổ thừa, thì ai sẽ trọng dụng và giao việc trọng đại hơn cho bạn? 3. Bệnh kể lể: khi kết quả không đạt, chưa đạt và bị sếp hỏi tại sao, hoặc khi sếp kiểm tra xem đang làm gì, rất nhiều bạn trẻ phản ứng tự vệ bằng cách kể lể ra một vạn thứ task đang làm. Chuyện bạn đang làm bao nhiêu task không hề quan trọng. Nếu kể lể để thấy bạn đang làm cực khổ, hy sinh thân mình vì nghĩa lớn thì quên đi. Làm bao nhiêu, nhiều ít không quan trọng. Quan trọng là có đạt được kết quả, chỉ tiêu được giao không. Nếu làm 1 việc rồi đi chơi mà kết quả đạt được là OK. Nếu làm một vạn thứ mà không tạo ra kết quả thì cũng không có ý nghĩa gì. Do đó, nếu biết mình có bệnh kể lể, hãy chữa bằng cách đi chơi nhiều hơn, làm ít hơn nhưng luôn đạt được KPI được giao. 4. Bệnh nhiều chuyện & politics: chắc là do Việt Nam thiếu chương trình giải trí, nên tự mình viết kịch bản rồi tự diễn vai chính luôn tại công sở trở thành sở thích của nhiều người. Họ không có thời gian phát triển bản thân, không có thời gian rèn luyện kỹ năng, nhưng ngày nào không gây chuyện, xì xào bàn tán là ngày đó thiếu gia vị cuộc sống. That’s OK. Không sao. Nếu bạn sinh ra trong đời chỉ để đóng các vai drama hàng ngày rồi chết thì cứ đóng. Thời gian phí phạm vô ích vào những thị phi đời thường đó sẽ quận vào vận mệnh bạn suốt đời, khiến bạn loay hoay, quẩn quanh trong chốn ao tù do chính bạn tạo ra. 5. Bệnh ego: có lẽ đây là căn bệnh khủng khiếp và tràn lan nhất mà tôi thấy tại Việt Nam. Gía trị, thái độ, kiến thức, kỹ năng thứ gì cũng thiếu nhưng ego thì thổi phồng, nổ đì đùng mọi lúc mọi nơi. Cái tôi hoang tưởng này chỉ làm được một việc mà thôi, đó là lôi người ta xềnh xệch về phía sau, vào quá khứ, bịt mắt bịt mũi không cho người ta nhìn thấy cơ hội được lớn lên, được là chính mình, được làm những điều vượt qua giới hạn mà bản thân tưởng tượng. Thế giới này to lắm. Mở cửa thấy núi. Núi cao luôn có núi cao hơn, người giỏi luôn có người giỏi hơn. Và người không giỏi mà tưởng mình giỏi thì bạn vừa khai tử tương lai của chính bản thân mình. 6. Bệnh emo: vì ego nên đâm ra emo. Người khác nói thì không lắng nghe, chỉ biết chăm chăm chém dạt mọi người ra để giành lấy phần thắng về mình. Người khác đưa ý tưởng thì gạt phăng, trả treo tiêu cực, cãi vã, drama cho thật cao trào đến nhìn không nổi mặt nhau. Người không quản trị được cảm xúc là người thiếu EQ, không có cái nhìn toàn cảnh, không hiểu nguồn gốc của vấn đề và sẽ chẳng bao giờ làm gì thành công cả. 7. Bệnh hoang tưởng: đây là bệnh làm tôi ngạc nhiên nhất khi trở lại Việt nam làm việc. Dù nền tảng giáo dục không tới đâu, đến học đại học ra trường vẫn không chút kỹ năng hội nhập vào công việc, nhưng sự tự tin thái quá vào sức toả sáng của bản thân thì luôn cao vút. Đây là bệnh ếch ngồi đáy giếng, không biết trời cao đất rộng, cần phải bị đời tán cho vài cú lăn lốc mới tỉnh người. Tôi viết thế này, quá thẳng thắn, quá trực tiếp, sẽ làm không ít người khó chịu. Nhưng nghĩ rằng chúng ta không còn quá nhiều thời gian để nói những lời hoa mỹ với nhau. Thuốc đắng dã tật. Nếu bạn rón rén cảm thấy mình đang có bệnh, làm ơn chữa. Chúng ta nói với nhau ở đây không phải để dìm hàng nhau. Nói với nhau những lời chân thật là thực sự quan tâm, thực sự mong muốn cùng nhau phát triển bản thân, cùng nhau nắm bắt những cơ hội mới của tương lai và thế giới. Trừ phi bạn không muốn phát triển….
- LEARNING COMPASS - PHÁT TRIỂN BẢN THÂN LÀ LÀM GÌ?
Nhận tin nhắn này & đã nhận rất nhiều tin nhắn trước đây của các bạn tâm sự việc download và save các bài viết FB của mình trên máy để dành đọc lại. --------- Chào cô Vân, con đã biết cô qua quyển "Tôi đi tìm tôi" và thường theo dõi fb của cô để học từng chút một những điều cô chia sẻ. Tuy nhiên con đang có vấn đề ở việc sắp xếp, lưu trữ những điều đã học được. Trí nhớ của con giờ hok tốt lắm, nên hay quên dễ sợ luôn ạ. Đọc xong quyển sách hay, còn thường summarize, note điểm chính những điều mới học được để áp dụng cho mình, vậy mà sau một thời gian con cũng quên. Con thích viết ra giấy để nhớ được nhiều hơn, rồi ví như những bài hay đọc được từ cô thì con copy lại vào máy tính, nhưng sao thấy cũng lộn xộn quá ạ. Cô Vân chia sẻ cho con cách lưu trữ, hệ thống hóa các kiến thức với ạ, con biết ơn cô nhiều! Chúc cô sức khỏe ạ. --------- Những gì chúng ta đọc và ghi chép lại thật ra chỉ là thông tin. Thông tin chỉ có thể biến thành kiến thức khi ta áp dụng được nó vào đời sống, công việc của mình. Quá trình này gọi là internalization - cá nhân hoá kiến thức. Cùng một thông tin, bài viết, mỗi người sẽ tiếp cận, thấy có ích, thấy cần thiết ở góc độ khác nhau. Vì vậy, việc bài viết có nội dung gì không quan trọng. Quan trọng là nội dung đó liên quan cụ thể đến cá nhân bạn thế nào. Khi đọc xong, bạn rút ra bài học gì cho bản thân, và đỉnh cao của việc đọc là bạn đưa ra được action - hành động cụ thể gì để giúp bản thân rèn luyện và phát triển. Tôi khuyên các bạn đừng chỉ đọc, save, ghi chép vì rồi bạn cũng sẽ quên thôi. Thay vào đó, create action points - tạo list các hành động cụ thể sau khi đọc và bắt tay vào thực hiện. Dù vậy, tôi vẫn hướng dẫn cách save nội dung theo danh mục để bạn dễ review và tạo động lực cho bản thân theo 4 nhóm nền tảng phát triển bản thân tạo thành cái tôi gọi là learning compass - la bàn học để phát triển bản thân như sau: 1. Giá trị: người muốn làm việc xuất sắc, muốn phát triển xa và rộng, muốn làm được những điều tưởng chừng như không thể là người có nền tảng giá trị cốt lõi rất vững vàng, không thoả hiệp với giá trị đó. Ví dụ nếu đã xác định giá trị của mình là chính trực, bạn rồi có cố gắng tạo ra những trường hợp ngoại lệ và đổ thừa hoàn cảnh khiến mình không thể chính trực? Giá trị của bạn là gì? 2. Attitude - thái độ: mọi việc xảy ra trên đời bản chất là như nhau. Tuy nhiên, có người vì đó mà chán nản, buồn phiền. Có người lại nhìn thấy bài học giúp mình lớn lên, tìm ra cơ hội mới. Tất cả chỉ là thái độ tiêu cực hay tích cực trong cách ta tiếp cận thông tin. Xưa giờ đi làm, luôn nhớ câu bay: Hire for attitude, train for skills - tuyển dụng vì thái độ, huấn luyện về kỹ năng. Người đã không có thái độ tốt thì dạy gì cũng như không. Cho nên bản thân tôi cũng thế, chọn người có giá trị và thái độ rồi train chứ chưa bao giờ là ngược lại. 3. Knowledge - kiến thức: đây có lẽ là thứ ta bị nhồi nhét nhiều nhất từ khi bắt đầu đến trường. Tuy nhiên, điều cần ngộ ra trong thời điểm này là kiến thức thế kỷ 21 rất khác so với những gì hệ thống giáo dục cũ đang nhồi nhét. Vì vậy, học là cập nhật kiến thức mới nhất từ nhiều nguồn, một cách phi truyền thống và học cả đời. 4. Skills - kỹ năng: có kiến thức mà không có kỹ năng, không hội nhập được, không cộng tác được với thế giới thì cũng như không, vô ích. Đây là điểm yếu của giáo dục Việt Nam và cũng nên là mục tiêu phát triển bản thân của mỗi cá nhân. 4 nền tảng này, bạn đều cần rèn luyện. Learning compass sẽ là định hướng giúp bạn biết cần rèn luyện gì một cách có hệ thống để phát triển bản thân mỗi ngày về mọi mặt, không dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin.
- BASIC SKILLS – KỸ NĂNG CƠ BẢN NHẤT KHÔNG THỂ THIẾU ĐỂ LÀM VIỆC HIỆU QUẢ
Giữa trường học và nơi làm việc tuy gần mà lại rất xa, vì phần lớn học sinh, sinh viên đi học kiến thức chứ rất ít khi được dạy kỹ năng một cách có hệ thống để chuẩn bị cho công việc. Cũng chính vì vậy mà thời gian đầu nhận first jobbers – các bạn mới đi làm những công việc đầu tiên sau khi ra trường, doanh nghiệp phải dành rất nhiều thời gian để dạy, huấn luyện kỹ năng qua thực tế công việc trước khi các em có thể hoàn toàn hội nhập vào thế giới công việc. Cũng vì vậy, thời gian đầu đi làm của người trẻ thật ra là thời gian học việc chứ hoàn toàn không hề productive – tạo ra hiệu quả công việc. Để có thể rút ngắn thời gian hội nhập này, mỗi cá nhân nên nhận biết các kỹ năng cơ bản cần có là gì khi chuẩn bị đi làm, và tự rèn luyện trong suốt thời gian học việc. Sau đây là 8 kỹ năng cơ bản nhất cần có và cần rèn luyện để có thể hội nhập môi trường làm việc: 1. Active Learning – Học chủ động: là khả năng hiểu và áp dụng được thông tin mới vào quá trình giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định trong hiện tại và cả tương lai. Vào tổ chức nào, môi trường nào, công việc nào mới cũng cần phải học để có thể sử dụng, ứng dụng được những thông tin liên quan. Dù tổ chức nào cũng có chương trình đào tạo hội nhập cho người mới, hãy nhớ rằng việc học là nhiệm vụ của bạn, không phải của tổ chức. Do đó, chính bạn là người cần chủ động tìm hiểu, học hỏi, và luôn đặt câu hỏi bản thân sẽ áp dụng những thông tin mới này vào công việc của mình thế nào. 2. Active Listening – Lắng nghe chủ động: khả năng tập trung 101% vào những gì người khác nói, vận não để hiểu thông điệp người khác chuyển tải, hỏi để làm rõ hoặc được gảii thích khi không hiểu, và không cắt ngang không đúng lúc khi người khác đang giải thích. Chuyện ngồi im nghe không hiểu cũng không hỏi, đến khi làm sai mới nói tại em không hiểu là điều tồi tệ nhất bạn có thể làm trong công việc. Nhưng thế học thụ động của nền tảng giáo dục Việt Nam đã rèn luyện ra thói quen xấu này qua nhiều thế hệ. Vì vậy, kỹ năng active listening là kỹ năng cực kỳ quan trọng, giúp bạn trẻ giành lại thế chủ động. Không nghe, không hiểu, sao làm? 3. Critical Thinking – Tư duy phản biện: khả năng sử dụng logic và lý luận để tìm ra điểm mạnh điểm yếu của các giải pháp khác nhau, các kết luận hoặc cách tiếp cận khác nhau. Không cần phải bàn nữa vì đây là kỹ năng tôi đã chia sẻ rất nhiều. Người không có tư duy phản biện thì không có chính kiến, không trình bày được quan điểm, không đưa ra được quyết định vì không hiểu dựa vào đâu để quyết định hay giải quyết vấn đề. Vậy, không lẽ đi làm nghĩa là ai kêu gì làm đó mà chẳng hiểu tại sao? 4. Learning Strategies – Chiến lược học tập: khả năng lựa chọn và sử dụng các phương pháp học tập/huấn luyện khác nhau khi học hoặc huấn luyện điều gì mới cho người khác. Học thì bản thân phải biết mình học cách nào là dễ thấm nhất. Ngược lại, nếu phải truyền tải, chia sẻ điều gì mới cho người khác, quan trọng là cần hiểu người ta sẽ học được bằng cách nào tốt nhất. Không phải ai cũng học giống nhau. Vì vậy, cần hiểu và có cách tiếp cận khác nhau với những người và hoàn cảnh khác nhau. 5. Monitoring – Quan sát và theo dõi: đây là khả năng theo dõi và đánh giá kết quả, sự tiến bộ của chính bản thân, của người khác, của tổ chức để có thể đưa ra các phát kiến, ý kiến hiệu chỉnh. Không có chuyện gì làm xong rồi thôi. Continuous improvement - Việc theo dõi quá trình, kết quả và hiệu chỉnh cho tốt hơn liên tục là chìa khoá của một người thành công, một tổ chức thành công. Thiếu khả năng này, bạn sẽ không bao giờ tiến bộ được. 6. Reading Comprehension – Đọc hiểu: nghe có vẻ quá cơ bản nhưng kỳ thực là con người bị dẫn dắt bởi thành kiến và thường xuyên hiểu một cách tự chọn lựa, hiểu theo ý riêng, hiểu một cách chủ quan. Đây là kỹ năng đọc hiểu các văn bản tại nơi làm việc một cách hết sức khách quan. Nếu một văn bản đưa ra mà đọc còn không hiểu thì làm sao có thể triển khai thực hiện? 7. Speaking – Nói: đơn giản là khả năng chuyển tải, trình bày thông tin sao cho người khác hiểu. Bạn sẽ cười khi nghe nhắc đến kỹ năng này, vì có lẽ nghĩ rằng ai mà chẳng biết nói. Vấn đề là, có rất nhiều người nói rất dông dài mà người khác hoàn toàn không hiểu bạn đang muốn nói gì, đang muốn trình bày vấn đề gì, hay đang đưa ra thông điệp cụ thể là gì. Nói lung tung, chung chung thì dễ, chứ nói chính xác và dễ hiểu thì cực khó. 8. Writing – Viết: như đã nhắc đến trong một bài viết gần đây, viết là kỹ năng vô cùng quan trọng trong thế kỷ 21 vì đây một phần quan trọng của kỹ năng giao tiếp, đặc biệt tại công sở. Viết sao cho hiệu quả, chuyển tải được thông tin và thông điệp chính xác, dễ tiếp thu cho từng nhóm đối tượng khác nhau trong công việc là kỹ năng cần rèn luyện. Kỹ năng này cần thực tâp mỗi ngày, theo dõi và hiệu chỉnh theo thời gian để có thể tốt dần lên. Không có short cut – đường ngang ngõ tắt cho kỹ năng, ngoài việc rèn luyện hàng ngày. Đây có khi là thời gian tốt nhất để bạn review – kiểm tra lại các kỹ năng cơ bản của bản thân, bắt đầu lên kế hoạch rèn luyện để chuẩn bị cho ngày quay trở lại nơi làm việc hay chuẩn bị để hội nhập vào công việc sau khi tốt nghiệp.
- SOCIAL SKILLS - KỸ NĂNG XÃ HỘI
Hôm qua, tôi đã chia sẻ kỹ năng cơ bản nhất để có thể hội nhập vào môi trường làm việc. Tuy nhiên, ngoài các kỹ năng cơ bản, làm việc là môi trường xã hội với nhiều mối quan hệ trong ngoài khác nhau, đòi hỏi người đi làm cần có các kỹ năng xã hội cần thiết để biết cách tương tác và quản trị những mối quan hệ đó. Vì vậy, để có thể thành công nơi công sở, ngoài kiến thức chuyên môn, ngoài kỹ năng cơ bản, bạn cần rèn luyện các kỹ năng xã hội. Dưới đây là 6 kỹ năng xã hội mà ai và công việc nào cũng cần. 1. Coordination – Sắp xếp: đây là là khả năng thay đổi hiệu chỉnh những gì cần làm theo sự thay đổi về hành động của người khác. Tại nơi làm việc, cho dù là sắp xếp một việc sắp làm hay thay đổi một việc đang làm vì có tác động khác, khả năng có thể linh hoạt sắp xếp lại mọi việc theo hoàn cảnh mới là cực kỳ quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi tương lai là bất định và hoàn cảnh thay đổi rất bất thường không lường trước. Người có kỹ năng này dễ thích nghi, chuyển mình kịp thời và phản ứng nhanh với thay đổi. 2. Instructing – Hướng dẫn: đây là kỹ năng dạy / hướng dẫn người khác làm một việc gì đó. Tất cả các công việc vào lúc này hay lúc khác đều sẽ có nhu cầu cần hướng dẫn một ai đó làm một điều gì đó, dù là huấn luyện nội bộ, huấn luyện đối tác, hay hướng dẫn nhà cung cấp, khách hàng, vv. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng hướng dẫn và không phải ai cũng hướng dẫn được. Đây là kỹ năng, và là kỹ năng học được. Kỹ năng này đòi hỏi sự luyện tập, theo dõi, đánh giá và nâng cao liên tục qua trải nghiệm thực tế. Tốt nhất là chủ động nghe feedback của người được hướng dẫn và mentor / sếp / đồng nghiệp sau mỗi lần huấn luyện / hướng dẫn để có thể rút kinh nghiệm và làm tốt hơn lần sau. 3. Negotiation – Đàm phán: đây là kỹ năng đưa mọi người vào một không gian bình đẳng để có thể bàn bạc, hoà giải, đạt được sự đồng thuận một cách hài hoà nhất cho các bên. Kỹ năng này quan trọng không chỉ trong đối ngoại mà còn trong đối nội, và cần thiết cho bất kỳ công việc nào. Ai không có kỹ năng này sẽ khó mà tồn tại được, huống chi là phát triển nơi công sở. 4. Persuasion – Thuyết phục: là khả năng thuyết phục người khác thay đổi suy nghĩ hay hành động bất kỳ. Trong đời, nhất là đời đi làm, có lẽ bạn sẽ gặp sự bất đồng nhiều hơn là đồng ý. Sự bất đồng có thể đến từ cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp, và đặc biệt là từ các bên thứ 3, đối tác, khách hàng, vv. Khi quyết định được đưa ra, dù là quyết định của bạn hay của sếp, của tổ chức, là người triển khai, thực hành, bạn cần có khả năng thuyết phục để người liên quan thực hiện theo, tốt nhất là tâm phục khẩu phục. Do đó, thiếu kỹ năng này thì khó mà chèo chống được trong môi trường công việc. 5. Service Orientation – Tâm phục vụ: luôn chủ động tìm cách giúp đỡ, hỗ trợ người khác. Dù bạn đang làm nghề gì, bạn luôn luôn đang hỗ trợ một ai đó khác, có thể là đồng nghiệp, phòng ban trong tổ chức, hay khách hàng. Dù là trong hay ngoài tổ chức, người có kỹ năng này là người luôn tiến xa trong sự nghiệp vì họ luôn chủ động tìm kiếm, sáng tạo, và thử nghiệm những cách hỗ trợ người khác tốt hơn, và vì vậy luôn được người khác biết ơn, nể trọng, chú ý hơn. 6. Social Perceptiveness – Nhận thức xã hội: đây là khả năng nhận thức phản ứng của người khác và hiểu tại sao họ lại phản ứng như vậy. Trong môi trường làm việc ngày càng đa văn hoá, với cách tiếp cận công việc theo dự án, cần sự kế hợp của nhiều chuyên ngành và cá tính khác nhau, kỹ năng này ngày càng trở nên hết sức quan trọng để giúp bạn có thể làm việc nhóm, lãnh đạo nhóm, và quản trị dự án. Tất cả mọi việc trên đời, cuối cùng là do con người thực hiện với máy hoặc với người khác. Khi đã có yếu tố con người, thì luôn có phản ứng rất cá nhân, tuỳ thuộc vào môi trường, vào background – bối cảnh riêng, vào hoàn cảnh gia đình xã hội, vào tâm cảnh của người đó tại thời điểm phản ứng, vv. Ai hiểu được nguồn gốc của những phản ứng này là người có EQ cao và giải quyết vấn đề cực kỳ giỏi. Kỹ năng xã hội là thứ hầu như không được dạy trong trường học. Vì vậy, khi biết bản thân cần những kỹ năng này, chúng ta cần lưu ý, tìm hiểu và tự rèn luyện. Cách tốt nhất để học là học qua trải nghiệm. Lưu ý tìm người giỏi các kỹ năng này tại nơi mình đang làm việc rồi quan sát và học hỏi từ họ. Sau đó tự mình phản tư mỗi ngày về cách phản ứng của chính mình. Nếu có mentor, chủ động hỏi và xin feedback từ mentor. Trong rất nhiều trường hợp, sếp trực tiếp của bạn chính là người có thể mentor tốt nhất về kỹ năng. Tuy nhiên, trách nhiệm phát triển bản thân là trách nhiệm của chính ta. Nếu ta không chủ động sẽ khó mà tiến bộ.
- ENDURING HUMAN CAPABILITIES - KHẢ NĂNG TRƯỜNG TỒN TRONG MỌI THỜI THẾ
Thời thế sẽ luôn thay đổi. Hết 4.0 rồi sẽ có 5.0, 6.0, vv và vv. Thay đổi đã là hằng số rồi. Vấn đê giờ là thay đổi với tốc độ nhanh hơn kiểu gì thôi. Khi thời thế thay đổi, kiến thức có thể trở nên lỗi thời cần cập nhật, nhưng nguyên tắc vận hành chung thì vẫn thế. Làm business cuối cùng cũng theo những nguyên tắc nền của làm business, chỉ là các kênh tiếp cận, bán hàng có thể thay đổi. Bán hàng cuối cùng cũng là bán cho con người, và nhu cầu của con người cuối cùng cũng chỉ xoay quanh tháp Maslow với những nhu cầu vật lý và tinh thần cho cuộc sống. Vì vậy, thứ mà chúng ta cần trang bị cho bản thân và thế hệ tiếp nối cũng cần phải hết sức nền tảng, giúp con người hội nhập và chuyển đổi được theo thời thế. Thời nào rồi cũng cần mỗi cá nhân tự thân vận động, tự figure out – tìm hiểu cần phải làm gì, và tự hành động thích nghi. Những khả năng rất người, rất sống còn, rất nền tảng đó tôi gọi là khả năng trường tồn. Có được và rèn luyện tinh tế những khả năng này thì thời nào bạn cũng thích nghi và vươn lên được. Khả năng trường tồn chia thành 2 nhóm như sau: INNATE CAPABILITIES – KHẢ NĂNG SẴN CÓ Đây là nhóm khả năng làm người sinh ra là đã có. Tuy nhiên, khi không được rèn luyện, phát huy có thể dần dần mờ nhạt và trở nên im lặng. Bạn tưởng mình không có. Thật ra bạn sẵn có những không biết cách sử dụng mà thôi. Những khả năng này bao gồm: 1. Imagination: khả năng tưởng tượng, nhìn sự việc từ nhiều lăng kính khác nhau và thách thức những góc nhìn hiện tại, tìm ra những khả năng rất mới, rất khác của cùng một sự việc đó. 2. Empathy: khả năng thấu cảm là khả năng hiểu và quan tâm đến cảm xúc suy nghĩ, trải nghiệm của người khác. Có thể nói đây là khả năng cơ bản nhất của con người để có thể làm được bất kỳ việc gì trong đời. Không phải ông bà ta vẫn nói, hiểu người hiểu ta trăm trận trăm thắng đó sao? 3. Curiosity: khả năng tò mò, ham học hỏi là khả năng luôn tìm tòi thông tin mới, trải nghiệm mới và luôn tìm cách tìm hiểu cho bằng được bằng cách đặt câu hỏi cho tất cả mọi thứ xảy ra xung quanh mình. Cho nên cũng nói, khi bắt người ta ngồi im học thuộc, không cho đặt câu hỏi là chúng ta đang đi ngược lại nguyên tắc về gíao dục, làm phai mờ khả năng tò mò sẵn có của con người, tước đi ở họ khả năng tự hội nhập và thích nghi. 4. Resilience: khả năng kiên cường, bền bỉ là khả năng vượt qua được mọi thử thách, khó khăn trước mắt để tiếp tục hành trình mình đã chọn. Nếu có khả năng này, thì mọi sự thay đổi dù thời nào, dù có tạo ra thử thách kiểu gì, con người rồi cũng tìm cách để vượt qua. 4.0 cuối cùng cũng chỉ là một sự thay đổi về thời thế thôi mà. 5. Creativity: khả năng sáng tạo hôm nay khẳng định lần nữa, sáng tạo là khả năng sẵn có của tất cả mọi người. Không có người sinh ra sáng tạo và người sinh ra không sáng tạo. Đây là khả năng phát minh ra cái mới, đưa ý kiến, ý tưởng mới vào ứng dụng, sử dụng nguồn lực sẵn có một cách rất khác, rất bất thường, không theo khuôn mẫu hiện có nào. DEVELOPED CAPABILITIES – KHẢ NĂNG CẦN PHÁT TRIỂN Đây là tổng hợp những khả năng mà con người tự học, tự phát triển thông qua trải nghiệm và ứng dụng trong hành trình sự nghiệp, cuộc sống. 1. Emotional Intelligence – Trí tuệ cảm xúc: là khả năng cảm nhận và hiểu được những cảm xúc, trải nghiệm của người khác và hiểu tại sao cảm xúc tạo ra hành vi. Do đó, khi nhìn hành vi trên bề mặt và phản ứng theo hành vi trước mắt, không hiểu ngọn nguồn tại sao người ta phản ứng như thế, bạn sẽ chẳng bao giờ hiểu đúng vấn đề để giải quyết. Ngược lại, mọi sự phản ứng theo hành vi bề mặt chỉ làm cho sự việc thêm rắc rối, thêm phức tạp, đổ dầu vào lửa. 2. Teaming: hay nói cách khác là collaboration – khả năng cộng tác. Đây là khả năng cực kỳ quan trọng vì nó mở ra cho bạn cơ hội làm việc, hợp tác đa chiều, với mọi người từ những tổ chức khác nhau, từ những quốc gia và nền văn hoá khác nhau. Làm được điều này nghĩa là đã trở thành công dân toàn cầu, xem mọi người dù bối cảnh thế nào cũng chỉ là một human being – một con người như mình. 3. Social Intelligence – Khả năng xã hội: đây là khả năng hiểu được cách tương tác, sự linh hoạt, chuyển động trong các mối quan hệ xã hội, và ảnh hưởng của hành vi cá nhân đến quan hệ giữa người với người. Nên con người càng được bảo bọc, ít tương tác, ít quan hệ thì khả năng này càng thiếu. Người càng tham gia hoạt động nhóm cùng làm dự án, tham gia hoạt động cộng đồng, xã hội, càng tương tác nhiều thì khả năng này càng ngày càng được phát triển. 4. Sense-making: đây là khả năng nhìn vào bề mặt của những sự việc, trải nghiệm và rút ra được nguyên tắc hay hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Khi có khả năng này, một người đương nhiên sẽ tự tìm tự hiểu 4.0 là gì, tại sao nó xảy ra, ảnh hưởng đến mình thế nào và bản thân, cần phải làm gì để thích nghi, vv. Nếu đã có khả năng này thì mấy chấm không đi chăng nữa người có khả năng sense-making vẫn luôn tìm được, hiểu được và dễ dàng hội nhập. 5. Critical Thinking – Tư duy phản biện: tôi đã chia sẻ quá nhiều về khả năng này. Thiếu nó, bạn trở thành người không biết suy nghĩ, lập luận, không có chính kiến và mãi mãi sẽ chỉ chạy theo ý kiến của người khác. Tư duy phản biện là khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp, và tái lập thông tin theo góc nhìn, hướng suy nghĩ của cá nhân. 6. Adaptive Thinking – Khả năng ứng dụng: đây là khả năng nhìn ra, rút ra nguyên tắc, định dạng của những sự việc mới và ứng dụng nó vào môi trường, hoàn cảnh mới. Thay vì học thuộc, nếu được dạy khả năng này, con người sẽ luôn tự mình rút ra được bài học và ứng dụng vô giới hạn vào những hoàn cảnh khác nhau sẽ gặp trong đời. Vì vậy, đây là khả năng quan trọng để hội nhập trong bất kỳ tương lai nào phía trước. Cuối cùng, để hội nhập và tiếp tục hành trình phía trước dù tương lai ra sao, dù máy sẽ trở nên thông minh thế nào, dù thời thế có thay đổi thành mấy chấm, con người muốn hội nhập vẫn cứ phải giữ chặt nền tảng làm người. Chúng ta có được dạy để làm người? Chúng ta có đang phát triển bản thân mỗi ngày để rất người? Chúng ta có đang học cách hội nhập như một con người trong tương lai sẽ mãi mãi là bất định? Câu hỏi dành cho bạn. Và câu trả lời chỉ có mỗi người tự tìm ra cho chính bản thân mình.
- EI @ WORK
Hơn bao giờ hết, mùa Covid là mùa đẩy cao trào cảm xúc, khi tất cả đều bất định, khi bất thường là định nghĩa của bình thường. Trong hoàn cảnh như thế, con người dễ bị đẩy vào cao trào cảm xúc, nhất là những cảm xúc tiêu cực như hoang mang, lo lắng, giận dữ, trầm cảm, cô độc…. Làm việc từ xa hay từ nhà, với loài social animal – động vật bầy đàn như con người, lại càng là hoành cảnh cách ly tâm lý cực kỳ khó khăn. Do đó, mùa này là mùa cần tập trung luyện tập EI @ work – Emotional Intelligence at work – Trí tuệ cảm xúc trong công việc. Hôm nay nhắc lại nhưng đi vào chi tiết hơn cho các bạn những kỹ năng cụ thể mà người đi làm cần rèn luyện để nâng cao EI. EI bao gồm 4 bộ và 12 kỹ năng cơ bản như sau: SELF-AWARENESS – NHẬN THỨC BẢN THÂN 1. Kỹ năng 1: Emotional self-awareness – Khả năng nhận biết cảm xúc của bản thân. Đây là lý do vì sao nhiều công ty cho nhân viên học khoá thiền, vì thiền giúp con người học cách lùi lại, quay về với bản thân, ghi nhận cảm xúc trong thì hiện tại, và gọi tên cảm xúc đó một cách khách quan. Con người là loài dễ bị cảm xúc dẫn dắt nhất, và khi đã lâm vào trạng thái mù loà do cảm xúc bị phóng đại, tất cả lời nói, hành động, quyết định biểu hiện ra đều chủ quan, vô minh. Do đó, học dừng lại, thở sâu, delay cao trào cảm xúc là cách để cho phép bản than trở về với chính mình, với thực tại, nhận biết trạng thái cảm xúc của chính mình và học cách quản trị cảm xúc đó. SELF-MANAGEMENT – QUẢN TRỊ BẢN THÂN 2. Kỹ năng 2: Emotional self-control – Tự kiểm soát cảm xúc. Sau khi nhận biết bản thân ví dụ như đang giận dữ, bực bội, tức tối chẳng hạn, thì kỹ năng đầu tiên trong bộ quản trị bản thân là học cách kềm chế, kiểm soát không cho phép cảm xúc đó đánh lừa hay đẩy ta vào thế vô minh. Để làm việc này, mỗi người nên tự tìm cho mình chiêu kiểm soát hiệu quả nhất. Ví dụ đối với tôi ngày xưa, cách hiệu quả nhất là bỏ đi, tìm nơi tạm bợ nào đó một mình để thở sâu và bình tĩnh lại. Nếu hoàn cảnh cho phép thì tìm nơi có thiên nhiên, im ắng, bình yên. Nếu hoàn cảnh không cho phép thì một góc khuất nào đó gần hiện trường. Nếu không có chiêu để kiểm soát bản thân, và rèn luyện hàng ngày, con người sẽ cứ vô minh mặc cho cảm xúc dẫn dắt những cơn cảm xúc bất thường của bản thân, tạo ra những màn drama không cần thiết. 3. Kỹ năng 3: Adaptability – Khả năng thích nghi. Trong đời, không ai có thể nói trước chuyện gì sẽ xảy ra. Và ta, cũng không thể cứ nhốt mình trong quả bóng an toàn cho cảm xúc. Sẽ có hoàn cảnh kỳ cục, khó chịu, bất an xuất hiện. Sẽ luôn có những con người vô lý, cực đoan, khùng điên xuất hiện. Sẽ có những trường hợp xảy ra không như dự đoán, không theo kế hoạch, không đâu vào đâu. Và chính khi ta cảm thấy không còn khống chế được môi trường, là khi cảm xúc các kiểu bắt đầu chơi trò vờn bắt. Do đó, luôn expect the unexpected – vui vẻ đón nhận mọi trường hợp bất thường, không như ý xảy ra trong cuộc sống, rồi vui vẻ thích nghi với hoàn cảnh đó, tìm cách vận hành trong hoàn cảnh đó, sẽ giúp bạn cool hơn, sáng suốt hơn, bình tĩnh hơn. 4. Kỹ năng 4: Achievement Orientation – Hướng đến kết quả đạt được. Tôi đã từng có nhiều team đều là những con người có khả năng, có chút thành quả trong đời ngời lại với nhau và kết quả là disaster – thảm hoạ. Ego quá cao, chỉ biết cãi vã giành phần thắng về mình, không biết cách chung sống và hợp tác với người khác. Họ hội họp rất lâu, khổ sở vật vã với những cơn điên cảm xúc, nhưng cuối cùng chẳng đạt được kết quả gì. Tôi gọi đó là trạng thái “ngục tù vô minh”. Chúng ta sinh ra, gặp gỡ, và hợp tác với nhau trong đời, không phải để hành hạ, làm khổ nhau. Nếu biết học cách bỏ qua cái tôi, bỏ qua cảm xúc tiêu cực, vô lý để cùng nhau đạt được kết quả cuối cùng, con người sẽ trở nên cực kỳ hiệu quả, luôn vui vẻ và hạnh phúc dù đang làm gì, ở đâu, với ai. 5. Kỹ năng 5: Positive Outlook – Khả năng hướng đến sự tích cực. Ví dụ như trong mùa này, khi doanh nghiệp gặp khó khăn, khi lương giảm 50%, người tiêu cực sẽ bực bội, giận dữ đâm ra phàn nàn, nói xấu, gây hấn trong nội bộ. Người hướng đến sự tích cực sẽ chấp nhận hoàn cảnh, và suy nghĩ xem nhân cơ hội này để làm gì cho bản thân và tổ chức, rồi xông vào làm, mà quên bén những khó khăn mà chỉ nhìn thấy cơ hội mới. Gặp hoàn cảnh không như ý, người tiêu cực nhìn thấy nguy cơ, thất bại, người tích cực nhìn thấy cơ hội, hướng đi, hành trình mới. SOCIAL AWARENESS – NHẬN THỨC XÃ HỘI 6. Kỹ năng 6: Empathy – Khả năng thấu cảm. Trên đời này, chắc phải có đến 90% những cơn cảm xúc vô tội vạ xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, từ góc nhìn hạn hẹp, từ sự suy bụng ta ra bụng người. Tất cả chúng ta trong đời đều sinh ra và lớn lên trong những môi trường, hoàn cảnh rất khác nhau, được nuôi dạy, học hành, làm việc trong những hoàn cảnh rất khác nhau. Vì vậy, cách nhìn vấn đề và tư duy của mỗi con người là hoàn toàn khác nhau. Bạn vin vào thứ gì để tự suy ra cái bạn nghĩ, bạn nổi cơn chính là thứ người ta đang nghĩ? Empathy – khả năng thấu cảm có thể nói là đỉnh cao của giải quyết vấn đề. Nếu không biết người khác đang nghĩ gì, đang trong trạng thái thế nào, tại sao họ lại phản ứng và biểu hiện như thế, thì 99% những gì bạn đang thấy trên bề mặt là sai. Bắt đầu nhận thức vấn đề đã sai, làm sao giải quyết đúng? 7. Kỹ năng 7: Organizational Awareness – Nhận thức văn hoá tổ chức. Khi chúng ta chọn một tổ chức để dấn thân vào, để hợp tác, để làm việc, mỗi tổ chức sẽ có cấu trúc, văn hoá, cách vận hành khác nhau. Và ta, khi chọn tổ chức đó để dấn thân, hoặc là tìm nơi có giá trị chung để theo đuổi, hoặc là hiệu chỉnh bản thân để hoà mình vào văn hoá tổ chức đó. Là người đi làm, bạn di chuyển từ tổ chức sang tổ chức khác, và không có quyền expect – muốn những nơi bạn bước vào phải thay đổi để thích nghi với bạn. Ngược lại, bạn mới chính là người cần thay đổi để thích nghi với cách vận hành của tổ chức. Do đó, người đi làm chuyên nghiệp, rất quan tâm và học cách nhận thức rõ, học cách thích nghi với cấu trúc, văn hoá, cách vận hành của tổ chức đó. RELATIONSHIP MANAGEMENT – QUẢN TRỊ QUAN HỆ 8. Kỹ năng 8: Influence – Khả năng tạo ảnh hưởng. “Em nói rồi mà bản không nghe” có lẽ là câu tôi nghe nhiều nhất khi dẫn dắt các team. Người nói câu này là người bất lực, vì bản thân không hề tạo ra chút ảnh hưởng nào đến đồng nghiệp, đến đội ngũ. Và trong rất nhiều trường hợp, tôi nhận các câu hỏi inbox phàn nàn về sự thiếu hợp tác của đội ngũ, của sếp trên, của thành viên dự án, vv. Điều này chỉ cho thấy một sự thật là bạn thiếu EI, thiếu khả năng ảnh hưởng người khác mà thôi. Ảnh hưởng tạo ra đến từ đâu? Nó có thể đến từ khả năng chuyên môn, khả năng giải quyết vấn đề, vì bạn là người đáng tin cậy, vì bạn là người có cái tâm bao la, từ sự thấu cảm, từ quyền lực mềm của người lãnh đạo không tên, vv. Bạn đang có thứ gì để ảnh hưởng người khác? Trước tiên là nhìn lại chính mình, trước khi phàn nàn ai đó khác. 9. Kỹ năng 9: Coach and Mentor – Khả năng cố vấn, định hướng cho người khác. Người có EI là người vững vàng, luôn bình tĩnh, sáng suốt, nhìn ra cái gốc của mọi vấn đề. Do đó, họ là người tốt nhất để định hướng, dẫn dắt người khác. Và vì vậy, họ tạo ra ảnh hưởng rất lớn về năng lượng, về sự tích cực, về sự phát triển cho người xung quanh. Vì là coach và mentor, họ cũng học và phát triển bản thân tốt hơn khi tiếp cận với nhiều hoàn cảnh, trường hợp mới trong đời mà có khi bản thân chưa trải nghiệm. Con người lớn lên từ bài học của bản thân và bài học của những người bên cạnh. Giúp người, chính là giúp bản thân ta. 10. Kỹ năng 10: Conflict Management – Quản trị xung đột. Đã bao lần trong đời bạn bị quận vào các trường hợp xung đột? Chắc là đếm hoài không hết và tránh cả đời không nổi. Xung đột có khi là do bạn gây ra. Có khi là do người khác gây ra. Có khi là do vô tình hay cố ý bị lôi kéo vào cho thêm phần drama. Tất cả mọi xung đột, đều là drama. Sự thật không bao giờ hiện ra trên bề mặt. Đâu đó ở một góc khuất đen tối, luôn có sự hiện hữu của những phần con ích kỷ, ác độc, tham lam, sân si…. Người có EI bỏ qua tất cả những biểu hiện bề mặt vô tình hay cố ý của những người liên quan, bỏ qua cao trào của những cảm xúc vô tội vạ, của những lời nói và hành động vô minh, tìm ra nguồn gốc của vấn đề, và giải quyết xung đột với ý định tốt nhất cho tất cả mọi người, một cách công bằng, quanh minh nhất. Có khi, giải pháp là sự im lặng. Có khi, giải pháp là nói thẳng. Có khi, giải pháp là lắng nghe, thấu cảm và khuyên can. Có khi, giải pháp là lạoi trừ, vv. Không có một công thức để giải quyết mọi xung đột. Mỗi xung đột bắt nguồn từ nguyên nhân rất khác nhau, bởi những con người có hoàn cảnh rất khác nhau, động cơ rất khác nhau. Đó là lý do vì sao người có EI là người giải quyết xung đột sáng tạo và tận gốc nhất. 11. Kỹ năng 11: Teamwork – Làm việc đội nhóm. Trước nay, và đặc biệt là trong sự chuyển đổi của kinh tế sáng tạo, của kinh tế đám mây, làm việc ngày càng sẽ được cấu tạo bằng các đội ngũ dự án cùng hợp tác và hoàn thành. Đội ngũ có khi là từ cùng một công ty, doanh nghiệp, có khi là từ một hệ sinh thái, có khi là từ nhiều các khu vực địa lý và văn hoá khác nhau, vv. Do đó, teamwork – kỹ năng làm việc đội nhóm ngày càng trở nên cực kỳ quan trọng. Và cũng chính vì vậy, nếu thiếu EI, một cá nhân khó có thể mà hoà hợp, thích nghi và hợp tác nhanh chóng, hiệu quả, hướng đến kết quả đạt được một cách thành công nhất. Khi hiểu bản thân, hiểu người khác, hiểu mối tương quan giữa ta, tổ chức, và người khác, việc hợp tác sẽ trở nên dễ dàng hơn. Khi bỏ qua ego, emo, khi biết thấu cảm và nhìn xuyên qua vô minh, bạn trở thành đồng đội tuyệt vời nhất, và trở thành người dẫn dắt đội nhóm hiệu quả nhất. 12. Kỹ năng 12: Inspirational Leadership – Lãnh đạo truyền cảm hứng. Người có EI cao thường trở thành lãnh đạo, vì họ bỏ qua những sự vụ, tình cảm, xung đột nhỏ nhặt, linh tinh và hướng mọi người đến những chân trời nhân văn, tích cực, thành đạt và hạnh phúc hơn, cho họ, cho mọi người, và cho xã hội. Năng lượng tích cực của họ, bằng cách này hay cách khác, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến mọi người xung quanh, làm cho mọi thứ dường như dễ thở hơn, tươi sáng hơn, làm cho cuộc đời đáng sống hơn, và mọi vấn đề ghê gớm trở nên không đáng kể. Bạn nhận biết người có EI bằng cách đó. Ở gần họ, mọi thứ đều bỗng nhiên trở nên rất OK. Bên cạnh họ, bạn nhận ra mọi sự đen tối, nhỏ hẹp của chính bản than mình. Bạn mong muốn và cố gắng trở thành người tốt hơn, tích cực hơn, có ích hơn. Lãnh đạo truyền cảm hứng là người có sức ảnh hưởng đến người xung quanh như thế. Bạn có phải là lãnh đạo truyền cảm hứng? Nếu chưa, có lẽ cần nhìn lại bản thân vì mình đang còn thiếu EI. Trên đời này, không có gì là dễ, là mỳ ăn liền, là chạm đũa thần mà có. Muốn có EI, mỗi người cần phải rèn luyện 12 kỹ năng trên, không hề dễ. Tuy nhiên, nếu không bắt đầu một bước, hai bước, nếu không bắt đầu từ hôm nay, trong hoàn cảnh khó khăn này, thì mãi mãi hành trình sẽ chỉ là giấc mơ bên kia của cầu vồng. It’s your call – Quyết định là của bạn. Dấn thân là hành động của bạn. Thành bại là ở bạn. It’s your call!
- SIMPLICITY
Khi đặt một câu hỏi, mà nghe câu trả lời rất dài dòng, giải thích ngoằn ngoèo, dùng từ đao to búa lớn nhưng chẳng đi vào vấn đề, ta biết người trả lời không hiểu câu hỏi, không biết câu trả lời, hoặc không biết cách tư duy. Khi hỏi một vấn đề rất đơn giản, straight forward - thẳng thắn nhưng câu trả lời đong đầy lý thuyết cao siêu, bay bổng, sử dụng từ ngữ uyên thâm, bác học, chung chung, ta biết người trả lời đang sợ hãi, giấu dốt, thiếu tự tin. Tôi hay hỏi, nếu giải thích điều này cho đứa trẻ lên mười, bạn sẽ giải thích ra sao? Và đó cũng là cách hướng dẫn cho các bạn trẻ simplify - đơn giản hoá cách tiếp cận, cách giải thích, trình bày, trả lời câu hỏi. Con người có khuynh hướng làm cho mọi thứ phức tạp, rối rắm, huyền bí khi họ không hiểu, không hiểu đúng hoặc hiểu đủ. Người hiểu vấn đề càng sâu, càng thấu thì giải thích càng đơn giản, dùng từ càng bình dân, thông dụng, dễ hiểu. Simplicity is clarity - đơn giản là thước đo của sự thông suốt. Trong thời gian làm việc vừa qua tại Việt Nam, tôi nhận thấy nhiều người bị bệnh phức tạp hóa vấn đề. Chuyện không có gì làm cho thật nghiêm trọng. Việc cần làm không biết, toàn phát biểu những thứ nghe hay ho nhưng không giải quyết được vấn đề. Thích nói về những khái niệm so deep nhưng cực kỳ thiếu thực tế. Thích bàn về chiến lược này nọ nhưng chuyện nhỏ xíu, cụ thể trước mắt đụng tới đâu hư tới đó. Trên thực tế, tôi đã phải thẳng thắn thế này với một số bạn trẻ từng gặp, "em làm ơn đập tan cái bao bì so deep tào lao của em đi, trả bản thân về số mo, chấp nhận mình không biết cái quái gì và bắt đầu học lại từ đầu." Đương nhiên, cách tiếp cận này không work với những người thích về ngoài, ego, mày mặt. Nhưng tôi nghĩ đây là cách tiếp cận đơn giản nhất, hiệu quả và nhanh nhất để các bạn không bị mất quá nhiều thời gian vào công cuộc sản xuất bao bì lung linh cho một sản phẩm thiếu chất lượng, nội dung. Chúng ta còn quá nhiều thứ phải học, quá nhiều việc phải làm để hội nhập thế giới, tương lai, để tìm được chính mình, đơn giản để tìm thấy an vui, hạnh phúc. Nếu cứ phí thời gian phức tạp hoá mọi sự thật vốn giản đơn trong cuộc sống, lời nói rồi sẽ bạc phơ, bao bì rồi sẽ phai tàn, và ngày ra đi rồi vẫn chưa kịp hiểu vì sao ta đã đến.... How will you explain this to a 10-year-old?











